Giáo dục và trẻ em qua năm chỉ số
Trình chiếu này lần lượt đi qua năm chỉ số giáo dục của Ngân hàng Thế giới: chi tiêu công cho giáo dục, trẻ ngoài nhà trường bậc tiểu học, nhập học đại học, nhập học trung học và số học sinh trên một giáo viên. Mỗi khung hiển thị bảng xếp hạng các quốc gia, giá trị và thứ hạng của Việt Nam, cùng đường diễn biến theo thời gian. Tất cả số liệu lấy từ cùng một bộ dữ liệu được dùng trong bài viết.
| Government spending on education | 157 | Việt Nam chi 2,8874% GDP cho giáo dục, hạng 157 trên 203 quốc gia |
| Children out of primary school | 67 | 1,7318% trẻ trong độ tuổi tiểu học ở Việt Nam chưa đến trường, hạng 67 trên 205 quốc gia |
| Tertiary enrolment | 107 | Nhập học đại học của Việt Nam đạt 37,5924%, hạng 107 trên 203 quốc gia |
| Secondary school enrolment | 93 | Nhập học trung học của Việt Nam đạt 93,4123%, hạng 93 trên 208 quốc gia |
| Pupils per teacher (primary) | 114 | Mỗi giáo viên tiểu học ở Việt Nam phụ trách 20,277 học sinh, hạng 114 trên 206 quốc gia |
Hãy đọc từng khung một cách riêng biệt: xem giá trị của Việt Nam đứng ở đâu trong bảng, rồi nhìn đường diễn biến để thấy hướng thay đổi. Không nên cộng, trừ hay so sánh trực tiếp các con số giữa các khung, vì đơn vị (phần trăm GDP, phần trăm nhập học, số học sinh trên một giáo viên) và số quốc gia có số liệu đều khác nhau.
Những điểm chính
Trong chủ đề giáo dục và trẻ em, Việt Nam ở vào một vị trí hai mặt: độ phủ của trường phổ thông tương đối rộng, còn mức chi ngân sách cho giáo dục lại mỏng khi so theo tỷ lệ GDP. Chi tiêu công cho giáo dục của Việt Nam là 2,8874% GDP, xếp hạng 157 trên 203 quốc gia, thấp hơn giá trị thế giới 3,5693%. Ở chiều ngược lại, tỷ lệ nhập học trung học đạt 93,4123% (hạng 93 trên 208 quốc gia), cao hơn hẳn giá trị thế giới 77,2786%, và tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi tiểu học không đến trường là 1,7318%, hạng 67 trên 205 quốc gia. Bậc đại học là khoảng trống rõ nhất: 37,5924% (hạng 107 trên 203 quốc gia), vẫn dưới giá trị thế giới 43,6151%.
Nguồn: World Bank, World Development Indicators — SE.XPD.TOTL.GD.ZS, SE.SEC.ENRR, SE.TER.ENRR, SE.PRM.UNER.ZS.
Giá trị mới nhất của chỉ số trung tâm
Chỉ số đứng đầu loạt bài này là chi tiêu của chính phủ cho giáo dục, tính theo phần trăm GDP. Việt Nam ở mức 2,8874%, xếp hạng 157 trên 203 quốc gia có số liệu, tức là thuộc nửa dưới của bảng. Giá trị thế giới cho cùng chỉ số là 3,5693%, nên Việt Nam thấp hơn khoảng 0,68 điểm phần trăm. Cần lưu ý đây là chỉ số đo phần chi từ ngân sách nhà nước, và chuỗi số liệu của Việt Nam trong bộ dữ liệu này kéo dài đến năm 2022, với giá trị 2,8874% chính là quan sát cuối cùng của chuỗi.
Nguồn: World Bank, World Development Indicators — Government expenditure on education, total (% of GDP), SE.XPD.TOTL.GD.ZS.
Nhóm dẫn đầu và nhóm cuối bảng
Ở đầu bảng chi tiêu công cho giáo dục là Kiribati 16,3905%, Samoa thuộc Mỹ 14,717%, Tuvalu 12,8457% và Micronesia 11,5591%, tiếp theo là Namibia 9,0844%, Algeria 8,9777% và Cuba 8,4409%. Đây phần lớn là các đảo quốc nhỏ hoặc nền kinh tế có quy mô khiêm tốn, nơi một khoản chi không lớn về giá trị tuyệt đối vẫn tạo ra tỷ lệ cao trên GDP. Cuối bảng là Somalia 0,0%, Nigeria 0,3191%, Zimbabwe 0,3848%, Papua New Guinea 0,7821% và Haiti 0,9646%. Đáng chú ý với bạn đọc trong khu vực, hai nước láng giềng Đông Nam Á cũng nằm ở nhóm cuối: Lào 1,2338% (hạng 197) và Indonesia 1,2752% (hạng 196), cùng với Li-băng 1,2249% (hạng 198). Việt Nam với 2,8874% cao hơn rõ rệt nhóm này nhưng vẫn nằm ở nửa dưới của bảng xếp hạng, và mang tính chất khác hẳn nhóm dẫn đầu gồm các đảo quốc nhỏ. Ở chỉ số trẻ ngoài nhà trường bậc tiểu học, đầu bảng là Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất 0,0039%, Azerbaijan 0,0266%, Uruguay 0,0355%, Hàn Quốc 0,0557% và Nhật Bản 0,0684%, còn cuối bảng là Somalia 85,2728%, Afghanistan 68,7716% và Guinea Xích Đạo 65,5965%; Việt Nam 1,7318% nằm ở khoảng một phần ba trên của bảng này.
Nguồn: World Bank, World Development Indicators — SE.XPD.TOTL.GD.ZS và SE.PRM.UNER.ZS.
Mười năm qua đã thay đổi ra sao
Chi tiêu công cho giáo dục của Việt Nam giảm dần trong chuỗi số liệu: từ 4,5283% GDP năm 2013 — mức cao nhất của chuỗi — xuống 3,4187% năm 2017, 3,085% năm 2019, rồi 2,9452% năm 2021 và 2,8874% năm 2022. So với năm 2013, mức mới nhất thấp hơn khoảng 1,64 điểm phần trăm; so với năm 2011 (3,7802%) thì thấp hơn khoảng 0,89 điểm.
Tỷ lệ nhập học đại học đi theo hướng ngược lại. Từ 25,8675% năm 2011, chỉ số này lên 30,2241% năm 2019, đạt đỉnh của chuỗi ở 44,7537% năm 2022, rồi lùi về 32,8415% năm 2023 và trở lại 37,5924% năm 2024 — tăng khoảng 11,7 điểm phần trăm so với năm 2011 nhưng dao động khá mạnh giữa các năm gần đây.
Tỷ lệ nhập học trung học đi lên đều đặn hơn: 89,4548% năm 2015, 92,8378% năm 2018, 94,6546% năm 2019, và 93,4123% năm 2022, tức là ổn định quanh mức trên 90% trong nhiều năm liền.
Tỷ lệ trẻ trong độ tuổi tiểu học không đến trường lại tăng nhẹ trong chuỗi: 0,0% năm 2013, 0,6944% năm 2017, cao nhất 2,1625% năm 2019, sau đó 1,3005% năm 2021, 1,6818% năm 2023 và 1,7318% năm 2024.
Về số học sinh trên một giáo viên tiểu học, chuỗi số liệu của Việt Nam chỉ kéo dài đến năm 2018: từ 20,4364 học sinh năm 2007 xuống thấp nhất 18,8835 học sinh năm 2013, rồi trở lại 20,277 học sinh năm 2018. Vì chuỗi dừng ở đây nên không nên coi con số này là diễn biến của những năm gần nhất.
Nguồn: World Bank, World Development Indicators — SE.XPD.TOTL.GD.ZS, SE.TER.ENRR, SE.SEC.ENRR, SE.PRM.UNER.ZS, SE.PRM.ENRL.TC.ZS.
So với các nước gần gũi
Về chi tiêu công cho giáo dục, Việt Nam 2,8874% (hạng 157) thấp hơn toàn bộ nhóm nước lớn được đối chiếu: Vương quốc Anh 5,9068% (hạng 32), Mỹ 5,4204% (hạng 43), Hàn Quốc 5,4091% (hạng 44), Pháp 5,3243% (hạng 47), Đức 5,2392% (hạng 54), Trung Quốc 3,8971% (hạng 112) và Nhật Bản 3,3366% (hạng 136). Khoảng cách với Trung Quốc là khoảng 1,01 điểm phần trăm, với Vương quốc Anh là khoảng 3,02 điểm. Trong khi đó, Việt Nam vẫn cao hơn hai láng giềng Lào 1,2338% và Indonesia 1,2752% khoảng 1,6 điểm phần trăm.
Ở bậc trung học, khoảng cách hẹp lại đáng kể: Việt Nam 93,4123% cao hơn Trung Quốc 92,2603% và chỉ kém Hàn Quốc 96,254% khoảng 2,8 điểm, kém Mỹ 97,4735% khoảng 4,1 điểm, kém Nhật Bản 101,5371% và Vương quốc Anh 112,12% nhiều hơn.
Ở bậc đại học thì ngược lại: Việt Nam 37,5924% thấp hơn Trung Quốc 76,8758% gần 39,3 điểm, thấp hơn Nhật Bản 64,4908% khoảng 26,9 điểm và thấp hơn Hàn Quốc 111,8533% rất xa; trong khu vực, Singapore ở mức 97,2887%, Macao 141,8648% và Hồng Kông 120,0898% đều nằm trong nhóm mười hai nước cao nhất.
Với tỷ lệ trẻ ngoài nhà trường bậc tiểu học, Việt Nam 1,7318% thấp hơn Mỹ 3,9822% và Trung Quốc 6,6763%, nhưng cao hơn Hàn Quốc 0,0557%, Vương quốc Anh 0,0698%, Pháp 0,2044% và Đức 0,2739%. Về số học sinh trên một giáo viên tiểu học, Việt Nam 20,277 học sinh ít hơn giá trị thế giới 23,4463 học sinh, nhưng nhiều hơn Pháp 18,1766, Trung Quốc 16,4267, Hàn Quốc 16,2867, Nhật Bản 15,661, Vương quốc Anh 15,1327, Mỹ 14,1986 và Đức 12,3028.
Nguồn: World Bank, World Development Indicators — SE.XPD.TOTL.GD.ZS, SE.SEC.ENRR, SE.TER.ENRR, SE.PRM.UNER.ZS, SE.PRM.ENRL.TC.ZS.
Cách đọc những con số này
Chi tiêu cho giáo dục ở đây được đo bằng phần chi của chính phủ so với GDP, nên không bao gồm học phí và các khoản học thêm do hộ gia đình tự chi trả. Vì vậy, một tỷ lệ thấp không nên được đọc thành kết luận rằng tổng nguồn lực dành cho giáo dục ít hay chất lượng giáo dục kém. Ngược lại, tỷ lệ cao ở nhóm dẫn đầu như Kiribati 16,3905% cũng không tự nó nói lên trình độ giáo dục cao, vì mẫu số GDP của các nền kinh tế nhỏ rất khác nhau.
Các tỷ lệ nhập học là tỷ lệ nhập học thô (% gross), tính cả người học ngoài độ tuổi chuẩn và người lưu ban, nên có thể vượt 100% — trường hợp Hy Lạp 165,1134% ở bậc đại học hay Monaco 158,5466% ở bậc trung học là ví dụ. Con số này không phải tỷ lệ "bao nhiêu phần trăm trẻ em đang đi học".
Chỉ số trẻ ngoài nhà trường bậc tiểu học không có giá trị thế giới trong bộ dữ liệu này, nên bài viết không so sánh Việt Nam với mức trung bình toàn cầu ở chỉ số đó; thứ hạng chỉ mang tính tương đối giữa các quốc gia có báo cáo, và có thể thay đổi khi thêm nước công bố số liệu.
Năm quan sát cuối cùng khác nhau giữa các chỉ số: chuỗi chi tiêu giáo dục và nhập học trung học của Việt Nam dừng ở năm 2022, chuỗi trẻ ngoài nhà trường và nhập học đại học kéo đến 2024, còn số học sinh trên một giáo viên chỉ đến 2018. Vì thế, việc đặt các chỉ số cạnh nhau như thể cùng một năm là không chính xác. Dữ liệu được cập nhật hằng năm qua bộ World Development Indicators của Ngân hàng Thế giới, và các giá trị quá khứ cũng có thể được điều chỉnh khi các nước báo cáo lại, nên những thay đổi nhỏ về thứ hạng không nên được đánh giá một cách dứt khoát.
Nguồn: World Bank, World Development Indicators — SE.XPD.TOTL.GD.ZS, SE.PRM.UNER.ZS, SE.TER.ENRR, SE.SEC.ENRR, SE.PRM.ENRL.TC.ZS.
Chi ngân sách cho giáo dục (% GDP) trên bản đồ và biểu đồ
| Hạng | Quốc gia / vùng | % |
|---|---|---|
| 1 | Kiribati | 16.39 |
| 2 | Samoa thuộc Mỹ | 14.72 |
| 3 | Tuvalu | 12.85 |
| 4 | Micronesia | 11.56 |
| 5 | Namibia | 9.08 |
| 155 | Ireland | 2.9 |
| 156 | San Marino | 2.9 |
| 157 | Việt Nam | 2.89 |
| 158 | Nicaragua | 2.87 |
| 159 | Suriname | 2.87 |
| 201 | Zimbabwe | 0.38 |
| 202 | Nigeria | 0.32 |
| 203 | Somalia | 0 |
Đầu bảng là Kiribati 16,3905%, Samoa thuộc Mỹ 14,717% và Tuvalu 12,8457%; cuối bảng là Somalia 0,0%, Nigeria 0,3191% và Zimbabwe 0,3848%. Việt Nam nằm ở nửa dưới, trên Indonesia 1,2752% và Lào 1,2338%.
Cột cho thấy khoảng cách rất rộng giữa hai đầu bảng, từ 0,0% đến 16,3905%. Đường diễn biến của Việt Nam đi xuống từ 4,5283% năm 2013 về 2,8874% năm 2022.
So sánh các quốc gia
Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường (tiểu học)
| Hạng | Quốc gia / vùng | % |
|---|---|---|
| 1 | Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất | 0 |
| 2 | Azerbaijan | 0.03 |
| 3 | Uruguay | 0.04 |
| 4 | Hàn Quốc | 0.06 |
| 5 | Nhật Bản | 0.07 |
| 65 | Bỉ | 1.66 |
| 66 | Antigua và Barbuda | 1.71 |
| 67 | Việt Nam | 1.73 |
| 68 | Aruba | 1.76 |
| 69 | Phần Lan | 1.77 |
| 203 | Guinea Xích Đạo | 65.6 |
| 204 | Afghanistan | 68.77 |
| 205 | Somalia | 85.27 |
Thấp nhất là Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất 0,0039%, Hàn Quốc 0,0557% và Nhật Bản 0,0684%; cao nhất là Somalia 85,2728% và Afghanistan 68,7716%. Việt Nam ở khoảng một phần ba trên của bảng.
Cột kéo dài từ dưới 0,01% đến hơn 85%, nên phần lớn các nước dồn về phía trái. Đường diễn biến của Việt Nam đi từ 0,0% năm 2013 lên đỉnh 2,1625% năm 2019 rồi quanh mức 1,7% các năm gần đây.
Tỷ lệ nhập học bậc đại học
| Hạng | Quốc gia / vùng | % |
|---|---|---|
| 1 | Hy Lạp | 165.11 |
| 2 | Macao | 141.86 |
| 3 | Síp | 120.88 |
| 4 | Hồng Kông | 120.09 |
| 5 | Hàn Quốc | 111.85 |
| 105 | Quần đảo Marshall | 37.69 |
| 106 | Paraguay | 37.62 |
| 107 | Việt Nam | 37.59 |
| 108 | Brunei | 36.42 |
| 109 | Jordan | 35.92 |
| 201 | Guinea Xích Đạo | 1.84 |
| 202 | Polynesia thuộc Pháp | 1.46 |
| 203 | Haiti | 1.05 |
Đầu bảng gồm Hy Lạp 165,1134%, Macao 141,8648% và Hàn Quốc 111,8533%; cuối bảng là Haiti 1,0514% và Polynesia thuộc Pháp 1,4568%. Việt Nam nằm ở nửa dưới, cách xa Singapore 97,2887%.
Cột trải rất rộng, từ khoảng 1% đến hơn 165%, cho thấy mức chênh lệch giữa các nước lớn hơn nhiều so với bậc trung học. Đường diễn biến của Việt Nam đi lên từ 25,8675% năm 2011 nhưng dao động mạnh, đỉnh 44,7537% năm 2022 rồi 32,8415% năm 2023.
Tỷ lệ nhập học trung học
| Hạng | Quốc gia / vùng | % |
|---|---|---|
| 1 | Monaco | 158.55 |
| 2 | Bỉ | 142.96 |
| 3 | Phần Lan | 142.4 |
| 4 | Hà Lan | 137.51 |
| 5 | St. Kitts và Nevis | 137.51 |
| 91 | Montenegro | 93.87 |
| 92 | Samoa thuộc Mỹ | 93.46 |
| 93 | Việt Nam | 93.41 |
| 94 | Slovakia | 93.19 |
| 95 | Ecuador | 92.81 |
| 206 | Haiti | 17.17 |
| 207 | Cộng hòa Trung Phi | 15.81 |
| 208 | Somalia | 3.35 |
Đầu bảng là Monaco 158,5466%, Bỉ 142,9603% và Phần Lan 142,3952%; cuối bảng là Somalia 3,3479%, Cộng hòa Trung Phi 15,8074% và Haiti 17,1656%. Việt Nam nằm ở nửa trên, gần nhóm nước lớn.
Nhiều nước tập trung ở vùng 90–110%, nên khoảng cách trong nhóm giữa khá hẹp. Đường diễn biến của Việt Nam đi lên từ 89,4548% năm 2015 và ổn định trên 90% cho tới 93,4123% năm 2022.
Số học sinh/giáo viên (tiểu học)
| Hạng | Quốc gia / vùng | học sinh/giáo viên |
|---|---|---|
| 1 | San Marino | 6.93 |
| 2 | Liechtenstein | 7.8 |
| 3 | Luxembourg | 8.3 |
| 4 | Na Uy | 8.59 |
| 5 | Kuwait | 8.88 |
| 112 | Brazil | 20.22 |
| 113 | Guatemala | 20.26 |
| 114 | Việt Nam | 20.28 |
| 115 | Triều Tiên | 20.3 |
| 116 | New Caledonia | 20.37 |
| 204 | Malawi | 58.68 |
| 205 | Rwanda | 59.51 |
| 206 | Cộng hòa Trung Phi | 83.41 |
Ít học sinh nhất là San Marino 6,9306, Liechtenstein 7,8016 và Luxembourg 8,3033; nhiều nhất là Cộng hòa Trung Phi 83,412 và Rwanda 59,5086. Việt Nam nằm ở nửa dưới của bảng.
Cột cho thấy chênh lệch hơn mười hai lần giữa hai đầu bảng, từ 6,9306 đến 83,412 học sinh. Đường diễn biến của Việt Nam giảm còn 18,8835 học sinh năm 2013 rồi trở lại 20,277 học sinh năm 2018.